Đến năm 2030, đổi mới sáng tạo sẽ giữ vai trò then chốt trong phát triển văn hóa, xã hội và con người Việt Nam, đưa đất nước vươn lên top 40 quốc gia dẫn đầu thế giới về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII). Trình độ khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo được nâng lên mức tiên tiến ở nhiều lĩnh vực, đứng trong nhóm dẫn đầu các quốc gia có thu nhập trung bình cao. Văn hóa đổi mới sáng tạo sẽ được lan tỏa rộng khắp, trở thành động lực phát triển bền vững từ doanh nghiệp đến cộng đồng.
Các mục tiêu đến 2030
* Kinh tế – xã hội:
– Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp >55% vào tăng trưởng.
– Đổi mới sáng tạo đóng góp >33% vào tăng trưởng GDP.
– Trên 40% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo.
* Khoa học – công nghệ:
– Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hoàn thiện.
– Số lượng đơn đăng ký và văn bằng sáng chế tăng 16–18%/năm.
– 8–10% sáng chế được khai thác thương mại.
05 trụ cột chiến lược
1. Đổi mới công nghệ.
2. Nâng cao hiệu suất.
3. Sáng tạo công nghệ.
4. Khởi nghiệp sáng tạo.
5. Văn hóa đổi mới sáng tạo.
Nhóm giải pháp trọng tâm
– Nâng cao nhận thức, phát triển văn hóa đổi mới sáng tạo trong toàn xã hội.
– Hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
– Đầu tư và hoàn thiện hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng số và trung tâm nghiên cứu.
– Phát triển nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu hội nhập.
– Thúc đẩy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong cộng đồng và doanh nghiệp.
Tầm nhìn
Chương trình hành động không chỉ mang tính định hướng mà còn là cam kết của Bộ Khoa học & Công nghệ trong việc đưa đổi mới sáng tạo trở thành động lực trung tâm của phát triển kinh tế – xã hội, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030: Việt Nam trở thành quốc gia công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao./.
Thu Hằng (Tổng hợp)


